Đây là nội dung được trình bày tại Bệnh viện Severance thuộc Đại học Y khoa Yonsei từ ngày 24 đến 25 tháng 6 năm 2017. Các loại nếp mí được chia thành ba loại chính: mí in-line, mí in-out line và mí out-line.

Tên gọi chính xác được các bác sĩ Hàn Quốc sử dụng là in-fold, out-fold và dạng trung gian. Thuật ngữ y khoa chuẩn xác nhất là in-fold (infold -> tapered fold) và out-fold (outfold -> parallel fold), và ranh giới ở giữa được gọi là in-out.

Kiểu mắt hai mí như thế này là nếp mí in-fold in-line.

Đây là nếp mí out-line, hay còn gọi là mí out.

Kiểu mắt hai mí như thế này là dạng trung gian, nếp mí in-out hay mí in-out line.

Mỗi loại đều có thể chuyển đổi từ in -> out, in -> in-out, và out -> in. Hình dáng nếp mí có thể được thay đổi một cách linh hoạt.

Trường hợp này là chuyển đổi từ mí in sang mí in-out.

Thực tế, những trường hợp bệnh nhân như trên là phổ biến nhất. Đây là hình ảnh sau 1 tuần phẫu thuật.

Nội dung này được biên soạn dựa trên bài thuyết trình vào tháng 6 năm 2017. Giống như nguyên liệu tươi ngon sẽ tạo ra món ăn hấp dẫn, tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân mà có thể đạt được kết quả tốt nhất. Đây là buổi thảo luận về phương pháp phẫu thuật tùy chỉnh "A La Carte" phù hợp với từng cá nhân.